Sunday, December 31, 2000

Chăm sóc trẻ bị viêm da dị ứng

Thời tiết lạnh và khô hanh là điều kiện thuận tiện cho bệnh viêm da dị ứng tại trẻ nhỏ phát triển. Đây là bệnh lý ngoài da phổ biến nhất ở trẻ em, 1 dạng viêm da mạn tính, tái phát, ngứa dữ dội xảy ra ở những trẻ có làn da nhạy cảm, khi các ứng dụng bảo vệ da trở nên yếu ớt.

Bệnh thường bắt đầu trong năm đầu đời và có tới 85% trẻ mắc bệnh tiếp diễn tới 5 tuổi. Thực tế trong chăm sóc bệnh, cha mẹ và người thân thường tự điều trị theo kinh nghiệm như đắp lá cây, hoa giã nát hoặc hạt đậu nghiền lại kiêng nước cữ gió làm bệnh nặng và có những biến chứng nguy hiểm.

Ở giai đoạn sơ sinh bệnh thường gọi là lác sữa, tính từ lúc 1 - 6 tháng tuổi và kéo dài đến 2 - 3 năm. Đặc trưng bởi những đốm da đỏ sẩn nước, sau đó rỉ nước và đóng vảy. Phân bố trên má, trán, da đầu, thân người, nếp duỗi ở chân tay và thường đối xứng 2 bên. Ngứa dữ dội là dấu hiệu cấp thiết có thể thấy được qua tình trạng trẻ bị kích thích, cào da đến chảy nước và chà vào những đồ vật gần đó. Gãi ngứa không cầm được thường xảy ra ban đêm khi trẻ ngủ. Để trẻ gãi ngứa nhiều gây xước da, hoặc tự điều trị không đúng sẽ dẫn đến biến chứng nhiễm trùng làm vết thương trở nên đau nhức, chảy máu và hóa mủ, trẻ sốt cao do nhiễm trùng huyết rất nguy hiểm.

Chính vì vậy, nhân viên y tế thôn bản cần hướng dẫn để các bậc cha mẹ và người thân của trẻ biết được chăm sóc ở nhà phù hợp rất cấp thiết để giúp trẻ dễ chịu, mau lành và tránh những biến chứng nguy hiểm. Cách chăm sóc bao gồm những bước sau

- Làm sạch da: Tắm rửa trẻ hàng ngày, lau mặt bằng khăn nhúng nước ấm. Ngâm vùng da tổn thương nặng trong nước ấm 15 - 20 phút, sau đó lau khô nhanh và lập tức bôi chất làm ẩm để ngăn cản tình trạng bốc hơi làm khô da. Ngâm da 1-3 lần/ngày tùy độ nặng của bệnh

- Bôi chất làm ẩm: Để duy trì độ ẩm ở da suốt cả ngày cần bôi các chất làm ẩm dạng dung dịch, dầu, kem hoặc thuốc mỡ theo hướng dẫn của y tế ngay sau lúc tắm. Thời tiết khô hanh nên chọn loại thuốc mỡ vì thành phần có ít tá dược nhất và tác dụng kết dính nhiều hơn

- Giảm ngứa và kích ứng: Duy trì giấc ngủ thông thường và ổn định tâm lý trẻ vì stress cũng là 1 nguyên nhân dẫn tới thói quen gãi ngứa ở trẻ. Cắt móng tay cho trẻ, mang bao tay, tất ban đêm để tránh tổn thương da do gãi ngứa. Tránh sử dụng chất tẩy rửa, hóa chất, xà phòng, cồn, và các sản phẩm chăm sóc da. Chọn quần áo thấm mồ hôi. Tránh những thức ăn dị ứng. Không cho trẻ chơi dưới đất, không chơi với súc vật hay thú nhồi bông

- Chỉ bôi thuốc theo chỉ định của bác sĩ, lưu ý không pha trộn hay bôi cùng với chất làm ẩm vì sẽ làm giảm hiệu quả điều trị

Đưa trẻ tới địa chỉ y tế lúc có dấu hiệu sốt, ngứa nhiều phải thức giấc ban đêm, tổn thương da trở thành đỏ hơn và chảy máu, có mủ, đóng vảy màu vàng, hoặc nếu như tổn thương da không giảm sau một tuần để được khám và điều trị kịp thời.         

BS. Kim Thoa

Trẻ rối loạn giấc ngủ: Người lớn cần thay đổi hành vi

Những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân, trẻ bị rối loạn giấc ngủ đang có chiều hướng gia tăng. Điều này dẫn đến sức khỏe cũng như trí tuệ của trẻ suy giảm, bị đe dọa nghiêm trọng. Điều đáng nói là việc trẻ bị rối loạn giấc ngủ phần to là do sự vô ý của người lớn.

1001 lý do

Bé Phương (gần 30 tháng tuổi) mấy đêm này thường thức giấc vào khi nửa đêm, có khi 1 - hai giờ sáng, khóc, la hét và tay chân đập thình thịch xuống giường. Mẹ dỗ mãi không được, nghĩ cu cậu nhõng nhẽo nên quát lên và đét vào mông 1 cái. Thế là cu cậu khóc càng dữ hơn. Mãi khoảng chục phút sau mới nín, rồi bé ngủ thiếp đi. Hiện tượng này lặp đi lặp lại mấy đêm liền, con mệt, ba mẹ cũng mệt, hàng xóm bị ảnh hưởng. Đưa chuyện này hỏi bác sĩ mới biết Phương bị rối loạn giấc ngủ. Nguyên nhân là cả tháng nay nó lần trước tiên tới trường (mầm non) và bị căng thẳng do không quen với môi trường mới, lo mẹ bỏ rơi…

 Những hình ảnh trên ti-vi có thể đi về giấc ngủ, gây khó ngủ cho trẻ.
Trường hợp tương tự như bé Phương rất nhiều. Chị Lan, một nhân viên văn phòng, kể rằng con chị phải mất tới 3 tháng mới hòa nhập được với trường mầm non và từ đó mới hết rối loạn giấc ngủ.

Có bé sợ đi học tới nỗi ngay thức thì nôn ọe khi vừa được bố mẹ mang tới cổng trường. Và buổi tối không thể ngủ yên giấc, có khi nửa đêm ngồi nhổm dậy nói năng lảm nhảm rồi khóc.

Bé Lâm (2 tuổi) trong mấy tháng liên tục đêm nào cũng khóc. Người gầy rộc đi. Bệnh tật kéo đến thường xuyên khiến bé càng yếu hơn. Và càng mất ngủ, bé càng quấy khóc dữ hơn. Bố mẹ phải đưa bé đi bệnh viện. Qua tìm hiểu, các bác sĩ mới biết vì hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ là công nhân nên tách con và gửi nó đi nhà trẻ khi mới một tháng tuổi. Bé Lâm thiếu thốn tình thương của cha mẹ, nên rơi vào trạng thái trầm cảm, lo lắng, mất phương hướng…

Tương tự, con của anh Hùng, chị Hương cũng được gửi cho nhà ngoại ở miền Tây lúc mới hơn một tuổi, để 2 vợ chồng lên TP.HCM đi làm công nhân. Bé ở với bà ngoại và nhớ mẹ nên đêm đêm khóc, la hét…

Bé Huân cũng là trường hợp vắng mẹ. Nhưng bé là đứa trẻ đã lên 4 nên sự chịu đựng mẹ vắng nhà đi làm cũng đở hơn những trẻ khác. Tuy nhiên, khi tại nhà, bé thường phải xem chung phim trên ti-vi cùng người giúp việc. Thay vì xem phim hoạt hình với liều lượng vừa phải, bé luôn căng mắt hồi hộp dõi theo những màn bạo lực cùng người giúp việc mê xem phim hành động. Một thời gian sau, bé Huân tối ngủ cứ ú ớ rồi khóc, la hét. Trong trường hợp này, các bác sĩ tâm lý cho biết, do Huân chưa phân biệt được cảnh trong phim và sự thực ngoài đời không như nhau nên lo lắng, sợ hãi cảnh đâm chém, bắn giết, có lúc đến tột độ. Sự sợ hãi đó kéo vào giấc ngủ của bé…

Thay đổi hành vi của người lớn

BS. Phạm Ngọc Thanh (trưởng đơn vị Tâm lý, BV. Nhi Đồng 1, TP. HCM) cho biết: “Khi điều trị cho những trẻ bị rối loạn giấc ngủ, chúng tôi thường hỗ trợ tư vấn tâm lý luôn cho bà mẹ, thậm chí cho cả ông bố”. BS. Thanh cho biết thêm, hiện BV. Nhi Đồng 1 hàng tháng phải điều trị cho khoảng 120 em bị rối loạn giấc ngủ, thường là tại thể nặng, xảy ra đã nhiều ngày, hoặc trẻ có hành vi bất thường như đập đầu về tường…

Thông thường, đứa trẻ bị stress là do bố mẹ chúng mang lại, khi họ cãi cọ nhau liên miên ngay trước mắt con mình. Trong trường hợp này, trẻ buồn và căng thẳng nhưng bố mẹ lại cho rằng chúng còn nhỏ nên chưa biết gì nên tiếp diễn “cuộc chiến” hơn thua.

Cũng có khi, người mẹ do nhiều lý do mà bị stress đã vô tình khiến con bị căng thẳng theo. BS. Thanh nói: “Trẻ rất cần hơi ấm của mẹ, ánh mắt, giọng nói, cử chỉ trìu mến của mẹ, và cả những lời hát ru ngọt ngào nữa… Thế nhưng nhiều bà mẹ tách con sớm, phó mặc chúng cho ông bà hay người giúp việc. Điều đó khiến trẻ bị stress trầm trọng và rối loạn giấc ngủ”. Cũng có khi do mẹ mong con mập nên vào đêm dựng con dậy cho bú dù nó đang ngủ rất ngon. Điều này khiến trẻ rối loạn giấc ngủ, đồng thời có thể gây nên tình trạng biếng ăn. Khi con đột nhiên khóc trong đêm, nhiều người cho rằng nó nhõng nhẽo liền quát nạt, hoặc phát về mông. Điều này càng làm cho trẻ bị căng thẳng và chứng bệnh trở thành trầm trọng hơn, khó điều trị hơn.

Trẻ mới tới trường rất dễ bị căng thẳng, dẫn tới rối loạn giấc ngủ vì chúng phải ở một môi trường xa lạ và có cảm giác lo sợ bố mẹ bỏ rơi chúng. Lúc này, bố mẹ cần cho con tập làm quen với trường lớp, có lúc hàng tuần, không nên vội phó mặc trẻ cho cô giáo sớm. Ở trường, ví dụ cô giáo nào quá nghiêm khắc cũng vô tình khiến trẻ bị căng thẳng, nhất là khi nó bị mắng hay đánh, hoặc nhìn thấy bạn trong lớp bị trừng phạt.

Nhiều khi trẻ đi học theo ý thích của người lớn. Thầy cô giáo không muốn trò có điểm kém ảnh hưởng tới thành tích chung của lớp, của trường nên ép trẻ học. Cha mẹ muốn con học nhiều năm kinh nghiệm và chuyên nghiệp đủ thứ từ văn, toán tới ngoại ngữ, vi tính... rồi bắt con giảm chơi tăng giờ học. Riết rồi đứa trẻ thiếu ngủ, mất ngủ rơi về tình trạng trầm cảm. Một vòng luẩn quẩn: trẻ thiếu ngủ, ngủ không ngon thường tiếp thu bài vở chậm. Và tương tự nó phải nâng cao giờ học khiến lại càng thiếu ngủ…

BS. Thanh nói, giấc ngủ rất nhu yếu không kém phần ăn uống, thậm chí là hơn. Vì giấc ngủ giúp con người hồi phục sức khỏe, tái tạo năng lượng, giúp phát triển trí não. Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi trẻ ngủ đủ giấc thường thông minh hơn, tiếp thu bài vở rất tốt hơn trẻ thiếu ngủ. Những ông bố bà mẹ nói riêng và tất cả những người lớn nói chung cần chú ý tránh những tác động khiến trẻ rối loạn giấc ngủ.

(*) Tên nhân vật trong bài đã được thay đổi.

NGUYỄN HƯNG

 

Phòng bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ em

Viêm tiểu phế quản (TPQ) là bệnh hô hấp cấp tính, rất hay gặp ở trẻ còn bú. Nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm sẽ cho kết quả tốt, những trường hợp nặng gây suy hô hấp có thể bị tử vong. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ cần có những hiểu biết vào bệnh để chăm sóc trẻ được rất tốt hơn.

Những biểu hiện khi trẻ bị viêm TPQ

Triệu chứng ban đầu thường thấy đặc biệt tình trạng trẻ ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3 – 5 ngày, trẻ ho ngày 1 nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Khi thăm khám thường thấy nhịp thở của trẻ nhanh, sốt vừa, có hiện tượng các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém.

 Cho trẻ thở khí dung.
Các tiêu chuẩn lâm sàng khác cho thấy trong khí máu PaO2 giảm, PaCO2 tăng, có nhiễm toan hô hấp kèm theo, đây là những chỉ số đánh mức giá mức độ nặng của bệnh. Để phát hiện chính xác loại virus gây bệnh, cần phải phân lập hoặc nuôi cấy virus, bằng cách lấy dịch tiết khí phế quản hoặc trong tổ chức phổi hoặc phản ứng huyết thanh.

Cần lưu ý: lúc chẩn đoán bệnh cần phân biệt với các triệu chứng của viêm phế quản, viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus, bệnh mềm sụn thanh khí quản, bệnh mạch máu, các khối u (chèn ép khí phế quản từ ngoài vào) hoặc tình trạng u mạch máu, hẹp khí quản gây tắc nghẽn đường hô hấp tại trong. Các bệnh như: trào ngược dạ dày thực quản, dị vật đường thở, khó thở thứ phát sau nhiễm virus... cũng cần phải phân biệt với viêm TPQ ở trẻ em.

Vì sao trẻ bị viêm TPQ?

Tác nhân làm cho trẻ bị viêm TPQ thường là do các virus như: virus hợp bào hô hấp (VRS), chiếm 30 - 50% các trường hợp mắc bệnh. Virus cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị viêm TPQ. Ngoài ra phải kể tới adenovirus với 10% số mắc.

Nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virus hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao, do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ. Những trẻ từng bị ốm do nhiễm virus trước đó như: viêm mũi họng, viêm amiđan, viêm VA... đều có nguy cơ dễ nhiễm bệnh ví dụ không được chăm sóc tốt. Các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, bị bệnh phổi bẩm sinh như: loạn sản phổi, mucoviscidose hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải viêm TPQ.

Các biến chứng thường gặp

Tất cả các trường hợp viêm TPQ tại trẻ nếu như không được chẩn đoán bệnh và điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: rối loạn chức năng hô hấp, có hiện tượng từng cơn khó thở ra tái phát, viêm TPQ lan tỏa. Nghiêm trọng hơn sẽ làm trẻ bị suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi – trung thất, xẹp phổi và thậm chí tử vong.

Xử trí và phòng bệnh thế nào?

Đối với các thể thông thường, không có suy hô hấp thì ngay lúc về viện các bác sĩ sẽ tiến hành hút thông đường thở, giải phóng các chất xuất tiết. Dùng khí dung ẩm thuốc giãn phế quản có tác dụng nhanh như: ventolin, bricanyl, salbutamol. Kết hợp với vật lý liệu pháp hô hấp, vỗ rung, hút đờm. Những trẻ sốt cao, nôn, thở nhanh phải bù đủ dịch và điện giải theo nhu cầu cơ thể trẻ. Cần cho trẻ dinh dưỡng đủ chất, cân nhắc cẩn thận trước khi dùng kháng sinh.

Đối với những trường hợp nặng có suy hô hấp thì phải dùng liệu pháp oxy, hút thông đường hô hấp trên, sử dụng thuốc giãn phế quản đường khí dung, truyền nước, điện giải theo nhu cầu cơ thể bù lượng thiếu hụt. Nếu những biện pháp trên không nỗ lự tình trạng suy hô hấp thì phải tiến hành đặt nội khí quản và các biện pháp hô hấp hỗ trợ khác. Chỉ dùng kháng sinh lúc có biểu hiện viêm nhiễm thứ phát, không nên sử dụng steriod cho trẻ.

Muốn phòng bệnh hiệu quả, các bà mẹ hãy cho trẻ bú sữa mẹ tới 2 tuổi, không để trẻ bị lạnh, giữ cho không gian sống của trẻ được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bếp than, khói thuốc lá. Khi đi ra đường nên giữ ấm và bảo vệ đường hô hấp trên cho trẻ, có thể dùng nước muối sinh lý 0,9% nhỏ về mắt, mũi trẻ sau lúc đi chơi về. Những trẻ bị các bệnh tim, phổi bẩm sinh càng nhất là lưu ý. Nếu trẻ có những biểu hiện bệnh như: sốt, ho, khó thở cần đưa ngay trẻ tới các chuyên khoa hô hấp để được điều trị đúng

TS. MINH TUẤN

Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ em

Xuất huyết giảm tiểu cầu (XHGTC) là một bệnh lý hay gặp ở trẻ em, thường có diễn biến cấp tính. XHGTC tiên phát là bệnh gặp khá phổ biến ở trẻ em. Gần đây người ta đã chứng minh được cơ chế miễn dịch của bệnh lúc tìm thấy các kháng thể kháng lại tiểu cầu. Bệnh có thể gặp tại mọi lứa tuổi của trẻ em nhưng có thể phân thành 2 nhóm khác biệt: ở trẻ nhũ nhi và trẻ lớn.

 Hình ảnh xuất huyết giảm tiểu cầu trên da.
Vì sao tiểu cầu suy giảm?

Tiểu cầu là 1 trong 3 loại tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu). Tiểu cầu có kích thước rất nhỏ, từ một - 4mm, chúng được sinh ra tại tuỷ xương, từ các mẫu tiểu cầu. Chúng có chức năng nhu yếu trong cầm máu, nhờ các tính chất đặc thù như: tập trung thành từng đám dính chặt về thành mạch nơi bị tổn thương và thoái hoá chất nhày để giải phóng ra nhân tố gây đông máu. Tiểu cầu có vai trò cấp thiết trong quy trình cầm máu và bảo vệ thành mạch không bị rò rỉ. Khi số lượng tiểu cầu giảm thì quá trình này không được thực hiện và diễn ra tình trạng xuất huyết.

Có nhiều nguyên do gây ra giảm tiểu cầu nhưng tập trung nằm tại hai nhóm nguyên nhân lớn sau đây: tăng phá hủy tiểu cầu tại máu ngoại vi; giảm sinh tiểu cầu tại tủy xương.

Trong nhóm đầu tiên lại có gần như bệnh không như nhau như: đông máu trong lòng mạch cấp tính và mạn tính gây tiêu thụ lớn tiểu cầu, các u máu lớn ở các vị trí không giống của cơ thể, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm virut nặng gây giảm tiểu cầu... hoặc các bệnh có kháng thể kháng lại tế bào máu như tan máu tự miễn kèm theo giảm tiểu cầu, bệnh lupus ban đỏ... Trong nhóm này phải kể đến bệnh XHGTC tiên phát mà ngày nay nhiều tác nhái gọi đó là xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn mà chúng ta sẽ nói nhiều sau đây.

Trong nhóm thứ 2, gồm một số bệnh lý ở tủy xương gây giảm các mẫu tiểu cầu như bệnh suy tủy toàn bộ, suy 1 dòng mẫu tiểu cầu hay các bệnh ác tính tại tủy xương như ung thư di căn tủy, lơxêmi cấp... khi đó giảm tiểu cầu là tình trạng thứ phát do các bệnh chính gây ra.

XHGTC tiên phát là bệnh gặp khá phổ biến ở trẻ em. Gần đây người ta đã chứng minh được cơ chế miễn dịch của bệnh lúc tìm thấy các kháng thể kháng lại tiểu cầu. Bệnh có thể gặp tại mọi lứa tuổi của trẻ em nhưng có thể phân thành hai nhóm khác biệt: ở trẻ nhũ nhi và trẻ lớn.                  

Những biểu hiện của bệnh không nên bỏ qua

Bệnh thường có khởi phát từ từ, kín đáo với sự có hiện tượng của các nốt xuất huyết chấm đỏ hoặc bầm tím, hoặc xuất huyết do xây trầy xước nhẹ trên da, không kèm theo sốt, thiếu máu, sưng hạch hoặc các biểu hiện toàn thân khác. Các nốt xuất huyết có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, thường là không có tính chất đối xứng ở 2 chi. Các nốt hoặc mảng tụ máu có thể tự nhiên xuất hiện hoặc do va đập nhẹ, thường là ở chân tay, mặt. Những vết cào xước nhẹ tại cổ, thân mình, chân tay cũng gây ra những dải xuất huyết. Rất ít khi bệnh biểu hiện chảy máu nặng ngay từ đầu như chảy máu mũi, chân răng, xuất huyết tiêu hoá hay tiểu ra máu.

Nan giải khi bệnh chuyển mạn tính

XHGTC ở trẻ em thường có diễn biến cấp tính. Khoảng 70- 80% các trường hợp tiểu cầu trở lại bình thường sau một vài tuần tới 3 tháng lúc đã được điều trị. Chỉ 20% trở thành mạn tính, số lượng tiểu cầu thấp kéo dài hoặc tái diễn, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp điều trị. Khi số lượng tiểu cầu giảm nặng cần có các biện pháp đề phòng chảy máu, nhất là là chảy máu ở phổi, não dễ gây tử vong cho người bệnh. Ở trẻ nhũ nhi, bệnh thường hồi phục nhanh chóng, có thể tự khỏi mà không cần điều trị đặc hiệu. Vì vậy việc cần yếu là đưa trẻ đến các chuyên khoa huyết học để khám và theo dõi, tránh tiêm các thuốc hoặc làm các thủ thuật gây chảy máu hoặc tụ máu thêm cho trẻ.

Nguyên tắc của điều trị XHGTC là dựa về cơ chế miễn dịch của bệnh. Corticosteroid được sử dụng như 1 thuốc kinh điển để điều trị XHGTC. Các thuốc ức chế miễn dịch khác cũng có thể được dùng để hỗ trợ hoặc thay thế lúc các tác dụng phụ của corticosteroid nặng nề. Gần đây, người ta đã ứng dụng các chất kháng lymphoB điều trị các thể XHGTC mạn tính, nhất là ở trẻ lớn. Trong các trường hợp có tiểu cầu giảm nặng, nguy cơ xuất huyết nội tạng hoặc não cao thì cần truyền tiểu cầu.

Đối với các trường hợp mạn tính thì việc điều trị còn rất nan giải. Những bệnh nhi này cần được theo dõi tốt, tránh các biến chứng do xuất huyết. Mặt khác cần hạn chế dùng corticosteroid liều cao, kéo dài làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Ở trẻ gái tới tuổi có kinh nguyệt thường có biểu hiện rong kinh, đôi khi gây thiếu máu nặng. Điều trị các trường hợp này cần sự phối hợp giữa huyết học với sản khoa và nội tiết.

TS. Dương Bá Trực

Xử lý tiêu chảy cấp ở trẻ em

Ngoài lý do trẻ mắc tiêu chảy do ăn phải thức ăn có chứa vi khuẩn hay do độc tố của vi khuẩn, trẻ còn có thể mắc tiêu chảy do virut như Rotavirus... Trẻ bị bệnh do tiếp xúc trực tiếp với nguồn chứa tác nhân gây bệnh theo đường phân - miệng hoặc bàn tay - miệng. Mùa hè chính là thời gian trẻ hay bị mắc bệnh so với các thời điểm khác trong năm.

Đặc điểm nhận biết: Nôn và tiêu chảy là các đặc điểm nổi bật của tiêu chảy cấp do Rotavirus. Nôn thường xuất hiện trước tiêu chảy 6 - 12 giờ và có thể kéo dài khoảng hai - 3 ngày. Trẻ nôn phần lớn vào ngày đầu và giảm bớt lúc bắt đầu đi tiêu chảy. Phân lỏng toàn nước, có lúc hoa cà hoa cải, có thể có nhầy mũi nhưng không có máu. Tiêu chảy ngày càng nâng cao trong vài ngày, sau đó giảm dần. Đa số các trẻ sẽ hết tiêu chảy sau 4 - 8 ngày. Tuy nhiên có thể có trẻ vẫn còn tiêu chảy đến hai tuần dù đã khỏe, chơi, đòi ăn trở lại. Trẻ có sốt vừa phải, đau bụng, có thể có ho và chảy mũi. Vì vừa bị ói và tiêu chảy nhiều, trẻ bị nhiễm Rotavirus rất dễ bị mất nước nếu không được chăm sóc thích hợp.  Biến chứng nguy hiểm và trầm trọng của bệnh là khô kiệt do mất nước và mất muối, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được bù nước kịp thời. Các biểu hiện của mất nước bao gồm: khát nước, môi khô, lưỡi khô, da khô, đi tiểu ít, quấy khóc, kích thích. Khi thấy trẻ có các biểu hiện trên ngay tức khắc phải đưa trẻ tới bệnh viện ngay.

Xử trí tiêu chảy cấp do Rotavirus: Tiêu chảy cấp Rotavirus do virut gây ra, vì vậy kháng sinh không có tác dụng đối với bệnh. Ở thể nhẹ, không có biến chứng, bệnh thường tự khỏi sau 3 - 8 ngày. Việc điều trị bệnh chính yếu là đề phòng biến chứng mất nước, bù nước và muối khi trẻ bị mất nước.

 Lưu ý những điểm sau đây:

- Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường. Có thể dùng nước đun sôi để nguội, nước canh rau, nước dừa tươi hoặc các chế phẩm bù nước và điện giải  bằng đường uống như oresol (ORS), hydrite, lưu ý dung dịch ORS có độ thẩm thấu thấp.

- Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng như bình thường, phù hợp theo lứa tuổi của trẻ. Nên chia nhỏ bữa ăn làm nhiều lần, cho trẻ ăn bằng thìa vì trẻ dễ bị nôn. Nếu trẻ nôn, cho trẻ nghỉ một chút rồi cho ăn lại.

- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ, nếu như trẻ bú bình thì cần vệ sinh bình, núm vú và dụng cụ pha sữa kỹ trước mỗi cữ bú, sữa được pha theo số lượng như trẻ vẫn bú khi không bị tiêu chảy, không được pha loãng hơn, không nên đổi loại sữa khác. Tương tự như việc cho ăn, nên cho trẻ bú từng ít một, nhiều lần trong ngày.

- Theo dõi số lần đi ngoài, số lượng phân, màu phân, khả năng uống bù nước và ăn uống của trẻ.

- Theo dõi phát hiện các dấu hiệu mất nước để kịp thời đưa trẻ nhập viện.

- Tuyệt đối không dùng thuốc cầm tiêu chảy cho trẻ vì các thuốc này làm giảm nhu động ruột, làm liệt ruột khiến phân không được thải ra ngoài chứ không có tác dụng kháng virut - nguyên do gây nên tiêu chảy. Do đó trẻ vẫn tiếp diễn bị tiêu chảy, mà phân không được bài xuất ra ngoài, ứ đọng lại trong ruột gây trướng bụng, biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong...

- Tránh kiêng khem quá mức như không cho trẻ uống sữa, chỉ cho trẻ ăn cháo trắng với muối sẽ khiến trẻ dễ bị bệnh nặng hơn.

Phòng bệnh tiêu chảy cấp tại trẻ: Rửa tay cho trẻ và người chăm sóc trẻ, rửa tay là cách rất tốt nhất để phòng bệnh. Khi trong gia đình có trẻ bị tiêu chảy, phân của trẻ bị tiêu chảy phải được thu gom xử lý tránh để tiếp xúc lây lan sang trẻ khác.     

ThS. Nguyễn Thanh Lâm

Nám da khi mang thai và cách khắc phục

Khi mang thai, phụ nữ thường bị nám da mặt, làm cho nhiều bà bầu mất tự tin lúc đi ra đường. Biện pháp nào để phòng chống nám là mối để ý chung của các bà bầu.

Nguyên nhân nám da

Trong thời gian mang thai, cơ thể phụ nữ có không ít biến đổi, rối loạn tại các cơ quan nội tạng như: da, đường tiêu hóa, tĩnh mạch, thần kinh, trong đó biến đổi vào nội tiết thường gây nhiều phiền muộn cho bà bầu, bởi nó để lại những hậu quả lâu dài trên làn da. Phần lớn, khi mang thai, da của phụ nữ trở thành xỉn màu, lỗ chân lông to, vùng chữ T bóng nhờn, môi thâm, vùng da tại gò má xuất hiện các vết nám...

 Nên hạn chế ra năng từ 9 giờ đến 16h
Nguyên nhân của hiện tượng trên là do nội tiết trong cơ thể trảo đổi làm rối loạn sắc tố da. Mặt khác, lúc mang thai, lượng hormone estrogen và progesteron tăng, cùng với lưu lượng máu tăng cao. Chính sự đánh tráo này kích thích việc hình thành các phân tử tyrosine (tiền hắc sắc tố melanin) nằm tại vùng sinh sản tế bào da bị oxy hóa. Đó là nguyên nhân trực tiếp gây nên căn bệnh nám da. Thêm nữa, thời gian nghỉ ở nhà nuôi con nhỏ của các bà mẹ thường gặp nhiều stress, mệt mỏi, bận rộn, sức khỏe giảm sút... Hiện tượng suy yếu này cũng là tác nhân khiến cho nám đậm màu hơn.

Phần lớn các vết nám da sẽ biến mất sau khi sinh. Sạm da lúc mang thai chỉ là một hiện tượng sinh lý thông thường, bà bầu không cần phải quá lo lắng, ảnh hưởng đến sức khỏe.

Khắc phục

Nám da lúc mang thai không đáng lo ngại nhiều. Phụ nữ có thể kết hợp nhiều biện pháp để giảm thiểu được nám da mà không ảnh hưởng tới thai nhi như: luôn giữ cho tâm trạng thoải mái, duy trì lối sống điều độ, vui tươi, giảm thiểu căng thẳng trong cuộc sống và công việc. Thường xuyên tập thể dục nhẹ nhàng để có sức khỏe tốt, đồng thời giúp điều tiết cho da thêm khỏe mạnh hồng hào. Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả, uống nhiều nước cũng là biện pháp tốt để chống lại hiện tượng nám da và giúp da sẽ giảm thiểu được vết nhăn. Tăng cường các loại thực phẩm chứa nhiều canxi, vitamin A, C và E có nhiều trong sữa, cà rốt, cam, chanh, đu đủ, gấc, giá đỗ, đậu nành là những loại có dưỡng chất giúp làm đẹp da, trẻ hóa làn da, chống nám. Tránh dùng những loại thực phẩm có hại cho làn da như: rượu, bia, thuốc lá, các loại thực phẩm cay, nóng.

Ngoài ra, để chống sạm da lúc mang thai, bà bầu nên hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nhất là về thời điểm từ 10h sáng đến 3h chiều vì đó là khi cường độ cực tím rất cao dễ làm cho da bị “tổn thương”.

Sử dụng mặt nạ

Việc dùng các mặt nạ tự nhiên để dưỡng da chống nám cũng là sự lựa chọn, giúp giảm thiểu được hiện tượng nám da và làm cho làn da bà bầu phát triển thành mịn màng. Tuy nhiên, Quan tâm chọn các mặt nạ không gây kích ứng cho da. Chị em có thể sử dụng một số loại mặt nạ sau:

Mặt nạ khoai tây: khoai tây rửa sạch, luộc chín nhừ rồi nghiền mịn. Bọc khoai tây đã nghiền mịn vào lớp khăn mỏng và đắp lên mặt. Sau 15 phút rửa mặt thật sạch với nước. Mặt nạ này có thể dùng một tuần 3 lần.

Mặt nạ lòng đỏ trứng gà: lấy lòng đỏ trứng gà, bỏ về bát cùng với một chút mật ong. Sau đó đánh quyện vào nhau. Dùng thìa tán đều ra mặt, đợi 25 phút sau ra rửa mặt thật sạch với nước. Mặt nạ này chỉ dùng được tuần 1 lần.

Lưu ý, phụ nữ mang bầu không nên ứng dụng các biện pháp chữa trị nám da hoặc dưỡng da bằng các loại mỹ phẩm nếu như không được sự hỗ trợ tư vấn của bác sĩ, vì rất có thể sẽ ảnh hưởng không rất tốt đến sự phát triển của thai nhi.

Mặt nạ dưa chuột: mặt nạ dưa chuột mát có tác dụng thanh lọc làn da, giúp se khít lỗ chân lông hiệu quả, tạo cảm giác thư thái. Bạn chỉ cần làm sạch dưa chuột, để cả vỏ và thái lát dưa chuột mỏng rồi đắp từng miếng lên mặt. Sau 15 phút rửa mặt thật sạch với nước.

Mặt nạ cà chua: cà chua chứa nhiều vitamin A, C, làm cho làn da thêm hồng hào. Cà chua có thể nghiền nhuyễn hoặc thái lát để đắp lên mặt. 15 phút sau, rửa lại mặt bằng nước sạch. Nám da mặt khi mang thai không đáng lo ngại, nếu như biết cách khắc phục thì có thể giảm nám, hoặc nám sẽ mờ dần sau khi sinh. Chị em nên chọn lựa một cách chăm sóc da thích hợp và nên hỏi ý kiến bác sĩ trước lúc sử dụng các biện pháp chăm sóc da trong thời gian nhất là này.

BS. THU PHƯƠNG

Chửa trứng và ung thư nhau thai

 Hình ảnh chửa trứng.
Chửa trứng là hiện tượng sản sinh quá mức của nhau thai (có người gọi là rau thai). Bình thường, nhau thai có nhiệm vụ nuôi dưỡng bào thai trong thời kỳ thai nghén. Trong trường hợp chửa trứng, nhau thai trở nên khối không được kiểm soát. Đa số trường hợp không có bào thai, được gọi là "chửa trứng hoàn toàn", một số trường hợp có bào thai nhưng không sống được gọi là "chửa trứng bán phần".

Nguyên nhân của bệnh: Hiện nay chưa biết rõ nguyên nhân. Người ta nghĩ tới những khả năng sau: sai sót tại trứng, sai sót quy trình thụ tinh, bất thường tại dạ con, thiếu các chất dinh dưỡng như đạm, axit folic, ca-rô-ten.

Do vậy, ăn uống đầy đủ các chất có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.

Các biểu hiện của chửa trứng và ung thư nhau thai:

- Chảy máu âm đạo,

- Ra dịch, các chất bất thường: các lông nhau hình quả nho,

- Đau bụng dưới,

- Nôn hoặc buồn nôn,

- Chảy dịch đầu vú bất thường,

- Bụng dưới to như có thai,

- Bụng không nhỏ lại sau khi sinh,

- Bệnh để muộn: khó thở, liệt, co giật.

Khi 1 phụ nữ có các biểu hiện trên nên đến khám tại trung tâm y tế để xác định. Khi đến địa chỉ y tế, thầy thuốc sẽ khám, siêu âm, thử máu trong đó có xét nghiệm HCG, thử nước tiểu, nạo buồng dạ con sau khi loại trừ thai bình thường, chụp Xquang phổi (và có thể làm thêm các chụp chiếu khác).

Phương pháp điều trị:

Đối với chửa trứng, thầy thuốc sẽ nạo sạch "trứng" với người có nhu cầu sinh con hoặc cắt tử cung đối với người không có nhu cầu sinh đẻ nữa. Sau lúc xử trí chửa trứng, người bệnh cần xét nghiệm máu, nước tiểu hai tuần/lần cho đến khi lượng HCG trở về bình thường. Tiếp theo sẽ thử nước tiểu 4 tuần/lần. Thời gian theo dõi 6 tháng. Ngoài ra trong các lần khám, thầy thuốc có thể siêu âm nếu thấy cần thiết.

Nếu bệnh phát triển thành chửa trứng xâm nhập hoặc ung thư nhau thai, thầy thuốc sẽ dùng các phương pháp chữa bệnh sau:

- Chữa bằng hoá chất: sử dụng thuốc để diệt ung thư.

- Chữa bằng phẫu thuật: tại 1 số trường hợp.

- Chữa bằng tia xạ: sử dụng tia phóng xạ để diệt ung thư, chỉ trong một số trường hợp.

Sau khi ra viện, bệnh nhân cần chú ý:

- Đi khám lại, thử máu, nước tiểu định kỳ theo chỉ dẫn của thầy thuốc.

- Với những người có mong muốn sinh con: Có biện pháp tránh thai ngay sau chữa bệnh; Có thai sau một năm từ ngày chữa bệnh, thử HCG vào tuần 6 và 10 của thai.

Chương trình tiêu chí quốc gia Phòng chống ung thư Bệnh viện K Trung ương

Ở châu u và Mỹ, cứ 2.000 trường hợp có thai gặp một trường hợp chửa trứng. Ở các nước châu Á, cứ 500 người có thai gặp một người chửa trứng. Tuổi thường gặp từ 20 - 40 tuổi.

Gọi là chửa trứng vì trong dạ con có không ít nang trông như các quả trứng hoặc chùm nho do các lông nhau thai sinh sôi và căng phồng. Khoảng 80% chửa trứng là lành tính, bệnh khỏi sau lúc nạo (hoặc cắt dạ con tại người không có nhu cầu sinh đẻ nữa). Khoảng 10 - 15% chửa trứng trở nên loại xâm nhập, bệnh ăn sâu về thành dạ con, gây chảy máu và các phiền phức khác.

Khoảng 2 - 3% chửa trứng trở thành ung thư nhau thai, bệnh phát triển nhanh, lan rộng, di chuyển tới các nơi khác như phổi, não... gọi là di căn.

TS. Bùi Diệu (GĐ Bệnh viện K)